|
Một số giới thiệu sơ lược về văn
Giới thiệu sơ lược về văn tự
Hán Nôm:
1. Một vài nét về lịch sử văn tự Hán Nôm
Theo truyền thuyết thì vua Phục Hy là người sáng
tạo hệ thống vạch bát quái, là hình thức sơ khai của chữ tượng hình của người
Hán (khoảng năm 3000 trước Công Nguyên). Tuy thực tế khảo cổ chỉ mới tìm được
các chứng tích cổ nhất là văn tự"giáp cốt", niên đại khoảng 1.500 năm trước Công
Nguyên, nhưng hệ thống văn tự này đã tương đối phức tạp, có lẽ
thời điểm ra đời phải nhiều thế kỉ trước nữa.
Văn tự "giáp cốt" là một loại chữ cổ được khắc trên
mai rùa (giáp) và xương thú (cốt). Nó là hình thức sơ khai của thể chữ "triện".
Chữ " triện" ra đời vào khoảng năm 826-827 trước Công
Nguyên, là sản phẩm do quan thái sử thời Chu Tuyên Vương là Sử Trựu sáng tạo ra.
Đến thời nhà Tần chữ "triện" vẫn còn được sùng thượng.
Trình Mạo thời nhà Tần là người có công sáng chế ra
"Lệ thư". Lúc ấy chữ Hán cổ mới có vào khoảng 3.000 chữ mà thôi. Tuy chữ Lệ xuất
hiện từ thời Tần nhưng đến đời Hán mới được thông dụng.
Đến thời Tam Quốc, Chung Diêu mới sáng chế ra chữ "chân"
hay còn gọi là chữ “khải”, được dùng làm kiểu chữ chính quy trong giấy tờ công
văn nhà nước, chữ Hán từ đó được định hình có quy củ và giữ dạng này khá ổn định
suốt hai nghìn năm lại đây.
"Hành thư" và "thảo thư" xuất hiện sau cùng, mà
Vương Hi Chi, và Trương Chi là những người khởi xướng, nhưng những dạng viết
“rồng bay phượng múa” đó có ý nghĩa về phương diện nghệ thuật thư pháp mà thôi.
Chữ Hán vào nước ta từ thời bắc thuộc, là văn tự
chính thức của nước ta đến đầu thế kỉ
20. Từ thế kỷ 10 sau khi dành lại độc lập thì cũng bắt đầu
hình thành chữ Nôm là thứ chữ dùng chữ Hán để ghi âm tiếng Việt, chữ Nôm phát
triển cực thịnh khoảng thế kỷ 18-19, qua các tác phẩm Nôm như Chinh phụ ngâm
diễn Nôm, Truyện Kiều … đặc biệt thời Tây Sơn 1789-1802 chữ Nôm đã được
dùng làm chữ viết chính thức của nhà nước.
Suốt hàng nghìn năm chữ Hán là văn tự chính thức
của nước ta, còn chữ Nôm tuy không là văn tự chính thức nhưng lại được dùng
nhiều để sáng tác văn thơ... Khối lượng di sản văn học Hán Nôm để lại rất nhiều,
cần có sự bảo quản, nghiên cứu, khai thác và phát huy. Hơn nữa trong văn viết
tiếng Việt hiện đại các thành tố gốc Hán Việt chiếm quá nửa, và vẫn đang được
phát triển nên rất cần có các từ điển Hán Việt tra cứu nghĩa gốc của chúng, hoàn
toàn không phải vì mục đích học một thứ ngoại ngữ là Trung văn hiện đại.
2. Nguyên tắc cấu tạo chữ Hán
Nôm
Có thể phân
làm 4 loại lớn
-
Tượng hình -
Chỉ sự -
Hài thanh hay “hình thanh”. -
Giả tá
Tuy
gốc ban đầu là tượng hình nhưng khả năng biểu hiện của nó cũng hạn chế, nhất là
những khái niệm trừu tượng không thể vẽ ra được, nên phải hình thành thêm loại
chỉ sự để mô tả các khái niệm trừu tượng như thượng (上
trên), hạ (下
dưới) ... nhưng hai nhóm này đều có hạn chế về khả năng thể hiện nên chữ
Hán cũng như Nôm về sau này chủ yếu chỉ phát triển loại hài thanh, mà nguyên tắc
cơ bản là tạo chữ mới bằng cách ghép hai chữ có sẵn, tạo ra hai thành phần, một
thành phần chỉ âm đọc, và một thành phần chỉ nghĩa. Còn chữ giả tá là mượn một
chữ đã có sẵn và đồng âm để làm một chữ mới, nghĩa mới, vậy nó gần với loại hài
thanh.
Thành phần chỉ nghĩa trong cấu tạo chữ hài thanh
nói trên không phải tuỳ tiện mà đã được trí tuệ nhiều đời đúc kết tổng hợp và
trừu tượng hoá, hệ thống hoá thành từng nhóm cơ bản gọi là “bộ thủ”, mỗi bộ thủ
khái quát và thể hiện cho một lớp đối tượng hay sự vật
cụ thể ví dụ bộ mộc 木 để chỉ về cây cối hay các vật dụng làm bằng gỗ; bộ tâm (tim
心 , 忄 ) thường chỉ các khái niệm tình cảm, tư tưởng .v.v.
Chữ Nôm
cũng theo nguyên tác cấu tạo của chữ Hán, nhưng nó lại thiên về chức năng
ghi âm, nên cách cấu tạo hình thanh chiếm vị thế chủ đạo. Ví dụ chữ “ăn 咹
” gồm chữ Hán “an 安” chỉ âm ghép với bộ “khẩu 口
” là miệng để chỉ ý, chữ khẩu thường còn có thêm chức năng cảnh báo cho người
đọc là phải đọc chệch âm đi chứ không được đọc đúng âm gốc của chữ Hán hay Nôm
bên cạnh.
Chữ
Nôm từ xưa vốn không được quy chuẩn hoá, mạnh ai nấy viết, nên cùng một âm đọc,
cùng chỉ một sự vật mà có thể có nhiều cách viết, chưa kể ngữ âm tiếng Việt vốn
đã biến đổi qua các thời đại, chữ viết theo đó cũng thay đổi mà phát sinh dạng
viết mới. Ví dụ chữ “trăng” âm việt cổ là “b-lăng” nên kiểu viết ghi âm cổ là “巴夌=
ba+lăng”, về sau chữ “ba” đã được đổi thành bộ “nguyệt 月 ” để chỉ ý (mặt trăng),
còn dạng viết cổ do âm đọc đã khác nhiều nên ít dùng nữa, nhưng các từ điển chữ
Nôm vẫn ghi đủ các dạng này.
3. Cung cách viết chữ
Chữ Hán-Nôm khi viết kiểu chính quy (chữ chân, còn
gọi là chữ khải) tạo thành từ một số nét cơ bản, mỗi lần nhấc bút khỏi mặt giấy
được kể là một nét. Xưa có khoảng 8 loại nét nhưng hiện nay Trung Quốc đã khái
quát hoá rút gọn còn 5 nét cơ bản là ngang, sổ (dọc), phảy, mác, và nét chiết (gãy).
Thứ tự thuận bút của chữ Khải là: - Trên trước dưới sau -
Ngang trước sổ sau - Phẩy trước mác sau - Giữa trước hai bên sau -
Trái trước phải sau - Ngoài trước trong sau - Vào trước đóng sau -
Bộ xước và nét chấm vai viết sau cùng.
Cần phải nhắc tới những điều này vì khi tra cứu từ
điển, loại cổ đại cũng như hiện đại, đều phải dựa rất nhiều vào việc xác định số
nét, thứ tự nét, và kiểu dạng nét. Các phần mềm soạn thảo chữ Hán thường đều có
kiểu gõ “bút hoạch” hoặc tương đương dùng để đánh chữ theo số nét, kiểu nét và
thứ tự nét. Chẳng hạn các điện thoại di động NOKIA dòng S40 trở đi đều hỗ trợ
tiếng Hoa, và có cung cấp kiểu gõ bút hoạch tiếng Hoa dựa trên 5 nét cơ bản đã
nói ở trên.
4. Cung cách tra từ điển Hán Nôm:
- Các bộ tự điển chữ Hán thời xưa đều sắp theo bộ
thủ: bộ thủ được xếp theo số nét của nó, còn các chữ trong từng bộ thì xếp theo
số nét sau khi đã bỏ bộ thủ, cộng chung lại thì cũng là xếp theo tổng số nét.
Nhưng việc xác định bộ thủ của một chữ không phải là dễ, có những chữ hình dạng
rối rắm, các nét đan xen dính liền nhau không thể nhìn ra đâu là bộ thủ, vì vậy
với loại tự điển này về sau người ta phải bổ sung thêm một bảng xếp theo tổng số
nét của chữ mà không theo bộ, hoặc làm riêng một bảng tra cho những chữ khó xác
định bộ, hoặc làm thêm bảng tra theo âm đọc (!)
- Đến thời hiện đại do Trung Quốc dùng chữ giản thể,
trong kiểu viết giản thể các khái niệm bộ thủ truyền thống đã bị vi phạm nặng nề
nên từ điển tra theo bộ ít còn hiệu quả, người ta phải phát triển các kiểu từ
điển tra theo cách khác, như loại từ điển tra theo mã tứ giác, hay tra theo
phiên âm Latin tiếng phổ thông TQ (gọi là âm Pinyin), chúng đều có những nhược
điểm về mặt này hay khác, chưa có loại nào thay thế hẳn được kiểu tra bộ thủ
truyền thống. Nhưng có lẽ loại từ điển xếp theo thứ tự viết 5 nét bút cơ bản nói
ở phần trên có vẻ được ưa chuộng hơn cả (ví dụ TĐ của Lục Y Ngôn).
- Với chữ Nôm tình hình cũng gần như vậy, cuốn Bảng
tra chữ Nôm (NXB KHXH 1976) và Từ điển chữ Nôm của Vũ Văn Kính được xếp theo
tổng số nét, với cùng só nét thì chia ra theo các bộ (nhưng chỉ tương đối chứ
không chính xác lắm) có phụ lục xếp theo âm đọc, cuốn Đại từ điển chữ Nôm của Vũ
Văn Kính lại chỉ xếp theo âm đọc Nôm. Gần đây có cuốn xếp theo bộ thủ, nhưng do
tác giả tự ý xếp đặt bộ chứ chưa tham khảo ý kiến rộng rãi các nhà chuyên môn
hoặc do một cơ quan có thẩm quyền duyệt, rất dễ gây tranh cãi, không được thừa
nhận.
- Xét một cách tổng quan thì cách tra chữ Hán – Nôm
có thể quy về hai phương pháp chính là tra theo tự dạng (bộ thủ, hay nét bút) và
tra theo âm đọc. Các phần mềm tra cứu chữ Hán - Nôm trên máy tính cũng theo
nguyên tắc như trên.
Thông thường với chữ Hán thì các phần mềm cho 3
kiểu tra chính:
+ Tra theo bộ thủ cổ điển (thường browse như một
cuốn sách TĐ điện tử)
+ Tra âm phổ thông Trung Quốc (âm Pinyin)
+ Tra âm Hán Việt.
Ngoài ra có các kiểu tra theo tổng số nét, tra âm
Quảng Đông, tra mã Thương Hiệt, mã tứ giác .v.v. nhưng với người Việt không có
mấy ý nghĩa.
Với chữ Nôm thì có hai kiểu tra chính:
+ Tra theo âm đọc (chữ quốc ngữ tiếng Việt)
+ Tra theo tổng số nét
Còn kiểu tra theo bộ thủ ít ý nghĩa vì chữ Nôm chưa
được quy chuẩn rõ ràng về bộ thủ.
|